LỜI TỰA

Thời gian đi qua sẽ không bao giờ quay lại, cho nên thời gian còn quý hơn vàng. Chính vì vậy, Các - Mác đã nói: “Tất cả mọi vấn đề kinh tế suy cho cùng cũng là vấn đề tiết kiệm thời gian” Còn Lê-Nin thì cho rằng “tranh thủ được thời gian là tranh thủ được tất cả” , bởi thời gian sẽ qua nhanh trong chớp mắt của một đời, một thế hệ.


Nhìn tờ giấy đã ố màu của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Văn Trung ký ngày 19/11/1976 Quyết định thành lập Đài Phát thanh Đồng Nai mà mộc còn đỏ màu son. Vậy mà thấm thoát đến nay, Đài Phát thanh Truyền hình Đồng Nai đã có hành trình 40 năm xây dựng và phát triển. Bốn mươi năm xây dựng và phát triển, với 14.700 ngày đã qua của Đài Phát thanh- Truyền hình với biết bao dấu lặng, dấu thăng của sáu đời giám đốc và các cộng sự. Họ, từ những người khởi dựng, khai mở nền móng ban đầu cho phát thanh - Truyền hình Đồng Nai đến các lớp kế thừa trên đường băng đổi mới tăng tốc phát triển đều cùng chung một ý chí: Nỗ lực vượt khó.


Đó là truyền thống sống động trong tư duy và hành động của mỗi người làm công tác phát thanh - truyền hình của Đồng Nai qua các thời kỳ. Chính nhờ các vốn quý: Truyền thống vượt khó ấy, đài Phát thanh - Truyền hình đã biết phát huy tinh thần “Trung thành - Đoàn kết - Trí tuệ - Đổi mới - Phát triển” để chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức. Tập thể lao động của Đài xem mỗi lần tận dụng được thời cơ là mỗi lần được tiếp thêm năng lượng tinh thần và vật chất cho sự đổi mới, phát triển. Mỗi lần cố gắng, có khi trong đớn đau vượt qua thách thức khó khăn, là mỗi lần rút ra bài học kinh nghiệm xương máu, tìm cơ hội vượt lên chính mình để đẩy mạnh tăng tốc.


Để có vị trí trên bản đồ báo chí nói chung và phát thanh - truyền hình của cả nước nói riêng như hiện nay, truyền thống vượt khó mà các thế hệ đi trước trao truyền lại, luôn được kế thừa, phát huy đến mức tối đa trong suy nghĩ và hành động Nhờ đó, Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai được các cơ quan quản lý báo chí ở Trung ương đánh giá là đài nằm trong Top 10 trong số 67 các Đài phát thanh - Truyền hình của Việt Nam. Một trong các tiêu chí đánh giá, Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai nổi bật nhất là một trong những đài sớm tự chủ về tài chính (2008); có đội ngũ lao động mạnh nên 4 giải A, chiếm gần 10% tổng số mười lần công bố - Giải Báo chí quốc gia là một minh chứng. Mặc dù không phải nhận 120 biên chế và hàng chục tỷ theo phân bổ kế hoạch hàng năm, song đài vẫn cố gắng không ngừng trong việc nâng số lượng kênh, thời lượng phát sóng, đổi mới và tăng thêm số lượng, chất lượng, các đầu chương trình… là một trong những nỗ lực vượt khó của tập thể đài trong thời gian qua.


Thực ra, nỗ lực vượt khó của đài chỉ là điều kiện ắt có, chứ chưa đủ. Điều đặc biệt có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong hành trình 40 năm xây dựng và phát triển của Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Nai là sự quan tâm chăm sóc, động viên kịp thời về mặt tinh thần, tạo điều kiện đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho đài, tạo thêm nguồn năng lượng mới cho đài cất cánh. Trải qua mười kỳ đại hội của Đảng bộ Đồng Nai, từ kỳ đại hội lần thứ nhất bế mạc ngày 19/11/1976 đến nay, các thế hệ lãnh đạo tỉnh Đồng Nai đều dành cho Đài Phát thanh - Truyền hình – cơ quan ngôn luận của Đảng bộ, chính quyền – tiếng nói của nhân dân tỉnh Đồng Nai những tình cảm tươi mới, trách nhiệm sâu nặng.


Đây chính là nguồn động viên to lớn, giúp các thế hệ làm phát thanh, truyền hình Đồng Nai năng động, sáng tạo vượt khó vươn lên các đỉnh cao mới trong hành trình phát triển suốt 40 năm qua.

Tất nhiên, trong chặng đường ấy, bản thân đài cũng không tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm, nên cũng phần nào ảnh hưởng đến tốc độ phát triển Vấn đề là bản thân đài đã dũng cảm “cầm dao tự giải phẫu” chính mình để làm cho cơ thể lành mạnh, xốc lại hành trang tiếp tục hành trình vươn tới

Quyển kỷ yếu này như một “biên niên sử” mà qua đó, bạn đọc có thể hình dung chặng đường đã qua và lộ trình đi tới của Đài Phát thanh – Truyền hình Đồng Nai đến năm 2020, tầm nhìn 2025-2030.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

Mai Sông Bé

Bí thư Đảng ủy – Giám đốc – Tổng Biên tập

Đài PT-TH Đồng Nai

 

 

 

 


 KỶ YẾU 40 NĂM ĐNRTV

  

 CHƯƠNG I: BÁO CHÍ ĐỒNG NAI KHÁT KHAO ĐỘC LẬP

 

Sau 14 năm đi đường vòng từ Sài Gòn đến NewYork - London - Paris – Berlin - Maxcova - Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã “thỉnh” được “quyển kinh” Quốc tế III và ngộ ra con đường giải phóng dân tộc, khát vọng độc lập tự do của mấy mươi triệu người Việt Nam đang rên xiết dưới gông cùm đày ải của thực dân Pháp.


Năm 1925, ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã ươm mầm những hạt giống đỏ, qua việc tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí hội để truyền ngọn lửa yêu nước và chỉ ra con đường giải phóng cho thanh niên Việt Nam. Cùng với việc gầy dựng tổ chức, Nguyễn Ái Quốc cho ấn hành báo Thanh Niên, tờ báo cách mạng đầu tiên để làm phương tiện tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể cho cách mạng Việt Nam. Đây là thời dựng Đảng để từng bước hình thành tổ chức cộng sản, chuẩn bị bước lên vũ đài chính trị, nắm lấy ngọn cờ dân tộc và giai cấp vào ngày 3/2/1930 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.


Cảm hứng đầy khát vọng giải phóng dân tộc dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mac - Lê Nin như một luồng điện xẹt, nhanh chóng lan tỏa về Việt Nam. Năm 1935, chi bộ Bình Ý - Tân Triều, tiền thân của đảng bộ Biên Hòa - Đồng Nai được thành lập. Những đốm lửa đầu tiên âm ỉ cháy trong xưởng thợ, dưới gốc cao su, ngoài đồng ruộng, trong những cánh rừng ở Đồng Nai. Thực dân Pháp hoảng hốt, tìm mọi cách dập tắt bằng các cuộc đàn áp khốc liệt, dã man. Máu đã đổ nhưng không vô ích, vì nó như những ét - xăng càng làm cháy bỏng lòng yêu nước của người Biên Hòa - Đồng Nai,hậu duệ của những người đi mở cõi tràn đầy khí phách hiên ngang thuở trước.


Đến năm 1945, chỉ với mấy chục đảng viên cộng sản nhưng đảng bộ Biên Hòa theo lệnh tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo hàng vạn người Biên Hòa đứng lên giành chính quyền về tay nhân dân. Người vinh dự cắm lá cờ cách mạng lên nóc tòa bố Biên Hòa, trung tâm quyền lực của tỉnh này là một nhà báo. Đó là Nguyễn Văn Nghĩa, đảng viên chi bộ Bình Ý - Tân Triều, quê ở làng Uyên Hưng, huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương, từng hoạt động báo chí ở Sài Gòn.


Một trang sử đẫm máu đã được những người yêu nước Biên Hòa lật qua trong cuồng phong bão táp của cách mạng. Bình minh của tự do chiếu sáng trong những trái tim đầy khát vọng và độc lập đã nằm trong tay những người yêu nước. Nước mắt hạnh phúc giàn giụa trên những đôi mắt một thời thao thức trong đêm dài nô lệ.


Thế nhưng do những rắp tâm, toan tính đầy sai lầm của các cường quốc, nên họ phản bội người bạn đồng minh Việt Nam từng tham gia mặt trận chống phát xít. Họ giúp thực dân Pháp của một nước Pháp vừa ra khỏi thảm họa phát xít quay lại tái chiếm Việt Nam lần thứ hai. Súng đã nổ, máu đã đổ từ mùa thu này, “ngày hai ba, ta lên đường, nghe theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”.


Thế là dưới cờ Đảng, “Mã Đà sơn cước anh hùng tận”, trở thành “Mã Đà sơn cước anh hùng tụ”. Theo lệnh của Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu, Huỳnh Văn Nghệ khởi cứ, lập chiến khu Đất Cuốc tập hợp quân rèn chính khí, mài gươm luyện súng, lạc quan chuẩn bị thời cơ, chờ ngày rửa hận xâm lăng. Vũ khí lớn nhất của họ là lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với gậy tầm vông, giáo mác, súng ngựa trời, trường bá đỏ đến sáng FM đầu bạc, mìn tự tạo, quyết tâm kháng chiến. Song với từng ấy, vẫn chưa đủ, kháng chiến phải có vũ khí tư tưởng để thu phục nhân tâm, vạch mặt kẻ thù, cổ vũ tinh thần cán bộ chiến sĩ vượt qua khó khăn, thử thách, anh dũng tiến lên. Vũ khí tư tưởng ấy là văn hóa, văn nghệ, báo chí cách mạng theo quan điểm Mác xít “nghệ thuật vị nhân sinh”.


Thế là giữa rừng xanh đầy sơn lam chướng khí, các tổ chức văn nghệ báo chí lần lượt ra đời. Cũng thơ văn nhạc họa, cùng lời ca tiếng hát làm nóng lên lòng yêu nước và khát vọng độc lập tự do của những người trong chiến khu, rồi lan tỏa ra các vùng tạm chiếm. Trong các thứ vũ khí ấy, có tờ báo Đồng Nai ra đời vào 1946, rồi sau đó là các tờ Tiếng rừng, Thủ Biên,… lần lượt được xuất bản trong điều kiện hết sức khó khăn về phương tiện in ấn. Dù vậy, những tờ báo cách mạng vẫn đều đặn chuyển đến bạn đọc trong chiến khu rồi ra thị xã Biên Hòa, làm cho người dân phấn khởi, đặt trọn niềm tin vào một ngày tự do sẽ đến không xa.


Đến cuối năm 1949 đầu năm 1950 nhân dân của các lực lượng vũ trang trong miền Đông Nam bộ được tiếp thêm sức mạnh bằng một binh chủng thông tin mới: Đài phát thanh.

 

x

x x

Trước năm 1945, cùng với báo giấy, trên toàn cõi Đông Dương thuộc Pháp chỉ có một đài phát thanh duy nhất là SaiGon Radio của nhà cầm quyền bảo hộ nhằm tuyên truyền cho chính sách cai trị của họ. Ngoài ra còn có một số đài nhỏ của tư bản Pháp chuyên quảng cáo như: Jaiden Xennirơ, Siranoyôra, Sironoyoru ở Sài Gòn, Simder ở Hải Phòng.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí xuất bản bí mật, công khai cũng chỉ là báo in, chứ chưa có phát thanh.

Cách mạng tháng Tám thành công. Trên đường đi từ Tân Trào về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ ngay đến việc lập một đài phát thanh quốc gia. Suy nghĩ này được Người trao đổi với các ông Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu và ý tưởng chỉ đạo này, nhanh chóng được giao nhiệm vụ cụ thể cho ông Xuân Thủy, Ủy viên Ủy ban Cách mạng Lâm thời Bắc Bộ.


Sáng ngày 22/8/1945, tại số 4 phố Đinh Lễ, Hà Nội, “bộ tứ” gồm các ông Xuân Thủy, Trần Lâm, Trần Kim Xuyến và Chu Văn Tích bàn việc xây dựng một đài phát thanh quốc gia để làm công tác đối nội, đối ngoại. Đây là công cụ tuyên truyền quan trọng có tác dụng lan tỏa nhanh và sâu rộng từ trong nước ra thế giới; là cầu nối giữa trung ương và địa phương, giữa chính phủ và nhân dân, là phương tiện tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ… ông Xuân Thủy nhấn mạnh như vậy.


Nhưng lúc bấy giờ ở Hà Nội, không có một SaiGon Radio như ở Sài Gòn nên bốn ông chưa hình dung phải xây dựng một đài phát thanh như thế nào. Vốn xuất thân từ một công chức ở Hà Nội, ông Trần Kim Xuyến đề xuất tận dụng hạ tầng của Sở vô tuyến điện - viễn thông và nên tin dùng những kỹ sư có kinh nghiệm ở đây, để cải tiến máy phát tín hiệu morse thành máy phát tín hiệu âm thanh. Đến ngày 31/8/1945, hai máy phát âm thanh cải tiến phát thử trên làn sóng 31 và 41 m thành công. Các địa phương ở miền Bắc, miền Nam thông báo có nghe được đài phát thanh phát nhạc cổ điển và nhạc tiền chiến.

Cùng với việc chuẩn bị công việc truyền dẫn, phát sóng, ông Trần Lâm lo gấp rút tuyển người có năng khiếu, trình độ từ bậc Thành chung trở lên để hình thành đội ngũ phóng viên, biên tập; còn việc xây dựng studio được giao cho ông Chu Văn Tích.

Sau mấy ngày chuẩn bị nội dung chương trình, đúng 11h ngày 7/9/1945, đài phát thanh quốc gia phát sóng buổi phát thanh đầu tiên với nhạc hiệu là bài “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi, do 10 cô gái của Hội phụ nữ Cứu quốc diễn xướng. Sau nhạc hiệu hùng tráng là lời xướng của bà Dương Thị Ngân và ông Nguyễn Văn Nhất: “Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”


Mở đầu chương trình là lời phi lộ:

“Thưa đồng bào toàn quốc và thính giả thân mến!

Bắt đầu từ hôm nay, ngày 7/9/1945, Tiếng nói của Việt Nam chính thức ra mắt đồng bào cả nước và các bạn thính giả khắp năm châu”.

Đài Phát thanh quốc gia của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong hoàn cảnh lịch sử như vậy.

x

x x

Số là cuối năm 1949, Đặc khu Sài Gòn - Chợ lớn được thành lập với Bí thư là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến, (không rõ nghĩa là Giáo sư Phạm Thiều, Phó Chủ tịch Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát,…

Để phục vụ cho công tác tuyên truyền, Đặc khu ủy quyết định thành lập Đài phát thanh “Sài Gòn - Chợ Lớn Tự Do” và xin đồng chí Nguyễn Khắc Cần đang phụ trách Đài tiếng nói Nam bộ kháng chiến về phụ trách đài này. Riêng về xây dựng máy phát sóng được giao cho Giáo sư Lê Văn Huấn, một người con của Phong Điền, tỉnh Cần Thơ. Giáo sư đã đưa vật tư, thiết bị phát thanh cùng các học trò của mình như Đặng Trung Hiếu, Dương Bá Nhẫn, Thái Văn Sinh, Tùng Nam vào chiến khu Tân Uyên để xây dựng đài. Sau đó, ông trực tiếp vào chiến khu để điều chỉnh hoàn thành phát thử nghiệm trước khi phát sóng chính thức. Việc vận chuyển vật tư từ Sài Gòn qua các đồn bót giặc dày đặc và lắp ráp hoàn chỉnh máy phát sóng trong điều kiện rừng núi, lại liên tục bị đánh phá là một điều hết sức nan giải.

Đài Sài Gòn - Chợ Lớn Tự Do đặt tại ấp Cây Cầy, xã Bình Mỹ, phía đông đường Tân Uyên - Phước Hòa, nằm cách Sài Gòn độ hơn 30km và cách Biên Hòa 20km. Sau hơn một năm chuẩn bị, ngày 25/1/1951, tại chiến khu Đ, Đài Sài Gòn - Chợ Lớn Tự Do chính thức phát sóng, nêu cao chính nghĩa của những người kháng chiến và nhân dân yêu nước khao khát tự do. Đài phát mỗi ngày hai buổi trưa và tối với hai chương trình tiếng Việt và tiếng Hoa, chuyển tải những nội dung ca ngợi cuộc kháng chiến kiến quốc của quân và dân ta. Các cây bút chuyên đề sắc sảo như: Bằng, Giang, Hương Trà; trào phúng châm chích chua cay của Triệu Công Minh hoặc những bài báo rực lửa của nhà báo Vũ Tùng, tiếng thơ sâu lắng của Ái Lan, Huỳnh Văn Nghệ. Đặc biệt, có sự cộng tác của giáo sư triết học người Pháp tên George Boundaret cũng là một cây viết chủ lực của đài. Ông George Boundaret sau này tập kết ra Bắc, trở về Pháp dạy ở đại học Paris, có nhiều công trình nghiên cứu về Việt Nam.

Đài phản ánh những trận đánh lớn nhỏ của quân và dân ta trong cả nước, những tấm gương chiến đấu dũng cảm của chiến sĩ ta, trong đó có gương chiến đấu của chiến sĩ đặc công Nguyễn Văn Thọ, mưu trí tấn công kho bom Phú Thọ, phá hủy 52 ngàn tấn bom, 50 triệu viên đạn của Pháp. Hay các trận chi đội 10 đánh yếu khu Trảng Bom diệt 50 lính Âu Phi, bắt sống 50 tên, dùng xe của địch chở 200 súng về chiến khu Đ an toàn. Các trận đánh kho xăng Nhà Bè, đánh chìm tàu chiến của Pháp trên sông Long Tàu, hay như trận đánh diệt 60 sĩ quan Pháp ở câu lạc bộ Không Quân trên đường Mac Mahon giữa Sài Gòn,…

Cùng với việc vạch rõ thế yếu của quân xâm lược với việc trong một thời gian ngắn năm lần thay đổi chính phủ ở mẫu quốc; đề cao chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh, các ủy ban hành chính kháng chiến các cấp trong việc lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc; cuộc chiến đấu gan gốc của lực lượng vũ trang miền Đông và Sài Gòn - Chợ Lớn. Đặc biệt, đài phản ảnh tình cảm của Bác Hồ dành cho đồng bào miền Nam và tình cảm của đồng bào Nam bộ hướng về Bác Hồ và Chính phủ trung ương với niềm tin tất thắng đang đến gần.

Tiếng nói chính nghĩa của Đài Sài Gòn - Chợ Lớn Tự Do phát từ chiến khu Đ, cách Sài Gòn hơn 30km đường chim bay đã làm cho nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn và các đô thị như Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An… nức lòng. Nhất là đồng bào trong vùng tạm chiếm, thông qua các chương trình phát sóng của đài, từng bước hình dung ra cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc; bản chất xâm lược của thực dân Pháp và tính chất bù nhìn, tay sai của cái gọi là chính phủ quốc gia của Bảo Đại. Tiếng nói của đài làm cho nhà cầm quyền Pháp điên đầu, nhân dân hồ hởi phấn khởi.

Thế là trận chiến trên không trung bắt đầu. Địch dò đài phá sóng. Anh em kỹ thuật của ta chạy sóng. Địch lại dò phá sóng, ta lại chạy sóng như một cuộc rượt đuổi kiểu du kích trên không trung. Lúc đầu người nghe không biết chuyện gì xảy ra, nhưng dần dần họ hiểu và kiên nhẫn dò đài để nghe được tiếng nói chính nghĩa từ chiến khu vọng về.

Không chỉ phá sóng, địch một mặt dò tìm địa điểm của đài để ném bom, bắn pháo, cho quân đột kích. Nhưng nhờ tinh thần đề cao cảnh giác, được sự giúp đỡ của bộ đội quân khu miền Đông, máy móc thiết bị được chôn giấu hoặc mang vác từ Cây Cầy, Suối Đỉa, xóm Bàu Sình lên Phước Hòa, Cổng Xanh. Khi địch rút quân, lại quay trở về phát sóng.


x

x x

Sau khi Nghị quyết 15 về kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang đi vào cuộc sống, phong trào Đồng Khởi nổ ra từ Bến Tre và lan khắp miền Nam. Đỉnh cao của phong trào này là sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 20/12/1960 tại Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Cũng trong thời gian này, Trung ương Đảng chỉ đạo đài quốc gia phối hợp với Ban Thống nhất Trung ương và Trung ương Cục miền Nam gấp rút xây dựng một đài phát thanh, cơ quan tranh đấu, tiếng nói chính nghĩa của nhân dân miền Nam.

Thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, đầu năm 1961, lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam lúc bấy giờ là Tổng Giám đốc Trần Lâm, đã cử các ông: Huỳnh Vạn Lý bí danh Ba Nhi, Vũ Đường bí danh Thanh Nho, Hoàng Quân, Hồ Vĩnh Thuận và sau đó là các ông Phạm Châu Lập, Huỳnh Đăng Khoa… mang theo một số thiết bị phát thanh gọn nhẹ, cùng một số đĩa nhạc bí mật theo con đường 559 mới mở trước đó ít năm, trực chỉ miền Đông Nam bộ.

Trước đó, vào cuối năm 1960, tại đồi Bằng Lăng, Mã Đà, chiến khu Đ, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục cho gọi anh Võ Văn Tòng, một cán bộ kỹ thuật vô tuyến điện đến gặp và giao nhiệm vụ: Cố gắng dựng cho được một đài phát thanh cách mạng trong thời gian sớm nhất. Là lính kỹ thuật ở rừng, trong tay ông Tám Tòng lúc đó chỉ có: Một cái mỏ hàn đốt nóng bằng cũi, một số điện trở, tụ điện đựng vừa đủ trong một (hộp đựng bánh bích quy), vài cây vặn ốc vít, hai ba cây kiềm các loại và quý nhất là một số sách báo chuyên môn vô tuyến điện bằng tiếng Pháp. Nhưng quý hơn cả là cùng với ông thầy Tám Tòng, còn có vài anh em công nhân học nghề vô tuyến ở ngoài thành đi kháng chiến được tập hợp theo phương châm “Tam ngu thành hiền”.

Được sự động viên kịp thời của các thủ trưởng Trần Bạch Đằng, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Bửu Kiếm, Tân Đức, thầy trò Tám Tòng mày mò tự chế linh kiện, lắp ráp đi lắp ráp lại nhiều lần. Thất bại song không nản chí, bởi đây là kỳ vọng của Đảng, cần thiết phải có một đài phát thanh để nêu cao chính nghĩa của nhân dân miền Nam.

Đến giữa năm 1961, bắt đầu thử sóng thành công ngoài sức tưởng tượng. Lãnh đạo cho phát thử nghiệm bằng câu chuyện “Võ Tòng đã hổ” được thu âm trước. Lãnh đạo điện hỏi các Tỉnh ủy miền Đông, miền Tây Nam bộ những ngày qua tín hiệu phát thanh có gì lạ không? Lần lượt các địa phương phản hồi: Gần đây, có một đài lạ không biết của ai, cứ phát đi phát lại chuyện Võ Tòng đánh cọp.

Được tin, cả lãnh đạo và nhất là anh em kỹ thuật mừng không tả xiết.

Nhưng do điều kiện chiến trường, lãnh đạo Trung ương Cục quyết định chuyển căn cứ chiến khu Đ về chiến khu Dương Minh Châu ở Tây Ninh. Do đó, đến ngày 01/2/1962, từ Bến Tà Nốt, Lò Gò ở đầu nguồn sông Vàm Cỏ Đông, lúc 19 giờ, giờ Sài Gòn, đã vang lên tiếng nói lịch sử: “Đây là Đài phát thanh Giải phóng - Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam - phát sóng từ vùng giải phóng miền Nam”. Thế là tiếp nói truyền thống của đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Tiếng nói Nam bộ, Đài Sài Gòn - Chợ Lớn Tự Do ra đời và ở miền Nam có thêm Đài phát thanh Giải phóng, cơ quan của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Bằng năm thứ tiếng Việt, Khmer, Hoa, Anh, Pháp, làn sóng của đài nhanh chóng chuyển tải thông điệp của Mặt trận ra cả nước và thế giới về quyết tâm của nhân dân miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, vì một miền Nam hòa bình, trung lập tiến tới thống nhất Tổ quốc.

Sự ra đời của Đài Phát thanh Giải phóng thực sự tiếp thêm cho cách mạng miền Nam một xung lực mới hết sức diệu kỳ, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Từ cơ quan đầu não của R, các chủ trương của Đảng, của Mặt trận, mệnh lệnh của Bộ tư lệnh miền được truyền đến các cấp ủy, mặt trận, các đơn vị lực lượng vũ trang. Đài phản ánh tiếng nói phẫn uất, nỗi niềm của nhân dân vùng tạm chiếm, nhất là nhân dân các đô thị miền Nam. Có thể nói Đài Giải phóng là một mũi xung kích sắc bén nhất của công tác tư tưởng lúc bấy giờ. Nội dung các bài viết đĩnh đạc, nêu bật chính nghĩa của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân miền Nam làm cho kẻ thù khiếp sợ, chùn tay gây tội ác. Chẳng hạn, có lần theo tin tình báo từ Sài Gòn gửi ra cho biết: Địch sắp lập pháp trường cát, chuẩn bị xử bắn một cán bộ của ta bị chúng bắt. Lập tức lãnh đạo Trung ương Cục chỉ đạo đài đưa tin, nếu chúng gây tội ác với chiến sĩ giải phóng thì lính Mỹ bị ta bắt làm tù binh sẽ chịu hậu quả… Ngay khi nghe được thông tin này, sứ quán Hoa Kỳ lập tức can thiệp với Nguyễn Cao Kỳ, yêu cầu dừng ngay việc xử bắn. Đúng là một ngày dòng tin có tác dụng cứu được một mạng người.

Nhân dân miền Nam yêu nước lắng nghe Đài Giải phóng như nghe chính tiếng nói của mình. Đó là tiếng nói khát khao độc lập tự do, tiếng nói chống xâm lược và ước mong hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Được nghe Đài Giải phóng người dân như cảm nhận cách mạng đang ở trong nhà mình, ở cạnh bên mình để giữ vững niềm tin về ngày toàn thắng.

Các chương trình của Đài Giải phóng, nhất là các chương trình địch vận làm cho sĩ quan, binh lính Việt Nam Cộng hòa hoang mang, dao động dẫn đến rối loạn hàng ngũ, tháo chạy tán loạn, nhất là thời gian sau khi Mỹ rút quân, thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh” đến mùa xuân năm 1975.

Để đảm bảo cho tiếng nói: “Đây là Đài Phát thanh Giải phóng - Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam phát sóng từ vùng giải phóng miền Nam” liên tục phát sóng, Trung ương chủ trương thành lập Đài Giải phóng A đặt tại Hà Nội. Đây là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo, để đề phòng lúc Đài Giải phóng B ở miền Nam bị ném bom, chống càn phải tạm thời ngưng phát sóng. Có thể nói đây là sự chi viện trực tiếp trên không trung từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam một cách có hiệu quả trong những thời điểm khó khăn.

Cùng một binh chủng tuyên truyền xung kích với Đài Giải phóng là Thông tấn xã Giải phóng được thành lập sớm hơn. Với một máy phát sóng 15 Watt, lúc 19 giờ ngày 12/10/1960 tại Khu rừng Chàng Riệc ở Tây Ninh, “Tiếng nói của những người yêu nước miền Nam Việt Nam” được phát trên làn sóng điện 31 mét, gây bất ngờ cho chính quyền Sài Gòn. Chúng chưa phán đoán lực lượng đối lập nào nhân danh những người yêu nước miền Nam đang chiếm lĩnh không gian nên cho binh lính lùng sục để triệt hạ cho bằng được. Nhưng chúng có biết đâu “Tiếng nói của những người yêu nước miền Nam Việt Nam” là tiếng nói của con chim báo bão về ngày sắp tàn của chế độ Ngô triều. Từ ngày phát sóng đầu tiên đến 68 ngày sau, ngày 20/12/1960: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập với tuyên ngôn và chương trình hành động mười điểm, trong đó điểm thứ nhất ghi rõ: Đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, thành lập chính quyền liên minh dân tộc dân chủ.

Nội dung mười điểm này được “Tiếng nói của những người yêu nước miền Nam Việt Nam” phát ra thế giới làm cho Mỹ Diệm bàng hoàng, bè bạn ngạc nhiên, báo chí thế giới luận bàn về một lực lượng đối kháng mới trên bàn cờ chính trị miền Nam. Bởi những người lãnh đạo Mặt trận đều là những nhân vật có tên tuổi ở Sài Gòn, như: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Bác sĩ Phùng Văn Cung…

Tiếng nói ấy, chính là tiền thân của Thông tấn xã giải phóng sau này và Thông tấn xã Giải phóng là một bộ phận của Thông tấn xã Việt Nam ra đời ngày 15/9/1945. Sau khi Trung ương Cục ra đời vào tháng 1/1961 thì Thông tấn xã Giải phóng chính thức ra đời ở chiến khu Đ.

Trong khi ta chỉ có Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng thì phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn có các cơ quan truyền thông mạnh, như: Việt tấn xã, Đài Phát thanh Sài Gòn, Đài Phát thanh quân đội, Đài Mẹ Việt Nam, Đài Gươm thiêng ái quốc, Đài tiếng nói Nam bộ, Đài tiếng nói Khmer, Đài Mặt trận dân tộc Đông Dương, Đài vô tuyến truyền hình Việt Nam. Do đó, cuộc chiến đấu cân não diễn ra trên không trung vô cùng khó khăn, gian khổ. Đối phương dùng các phương tiện kỹ thuật để chèn sóng, phá sóng, gây nhiễu tín hiệu tần số các đài của chúng ta. Đồng thời đưa lên không trung dày đặc các tần số vô tuyến với thời lượng phát sóng tối đa. Nội dung chuyển tải trên các làn sóng do một đội ngũ đông đảo, chuyên nghiệp của Nha tâm lý chiến thuộc Tổng cục chiến tranh chính trị của chính quyền Sài Gòn đảm trách. Bên cạnh những cán bộ, sĩ quan tốt nghiệp đại học chiến tranh chính trị Đà Lạt, là một đội ngũ cố vấn Hoa Kỳ chuyên về tâm lý chiến cho từng chương trình phát sóng. Các chương trình như “Thép súng”, Dạ Lan em ở hậu phương và anh trai tiền tuyến, Tiếng ca gửi người tiền tuyến, chương trình Sinh Bắc tử Nam… đều có nội dung đề cao cái gọi là chính nghĩa quốc gia và người lính cộng hòa. Đồng thời bôi đen, xuyên tạc cuộc chiến đấu thần thánh của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Nhưng, bằng những luận cứ sắc bén từ thực tiễn cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc và bè bạn quốc tế yêu chuộng hòa bình công lý, Đài Giải phóng, Thông tấn xã giải phóng đã bác bỏ những nội dung tuyên truyền chiến tranh tâm lý của Việt tấn xã và các đài phát thanh của chế độ Sài Gòn.

 

 

 

 

CHƯƠNG II: VỠ ÒA NGÀY VUI GIẢI PHÓNG

 

1/. Đài Biên Hòa từ Đài Hà Nam:

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975. Trong niềm vui chung của cả dân tộc Việt Nam anh hùng thời bấy giờ, nhiều tỉnh ở phía Bắc đã tổ chức thăm các địa phương từng kết nghĩa trong chiến tranh giải phóng dân tộc.

Hai tỉnh Hà Nam và Biên Hòa đã kết nghĩa theo tinh thần hậu phương lớn vì tiền tuyến lớn, nên sau giải phóng, tỉnh Hà Nam trao tặng cho tỉnh Biên Hòa một máy tăng âm 300 W, loại máy có công suất lớn để phục vụ cho công tác tuyên truyền. Ông Phạm Minh, nguyên Phó Trưởng ty Ty Văn hóa - Thông tin tỉnh Biên Hòa nhớ lại: Khoảng đầu năm 1976, ông cùng với hai người khác là ông Nguyễn Văn Nhiên (nguyên Trưởng phòng kỹ thuật của đài) và anh Nguyễn Hữu Hội (nguyên Phó Trưởng phòng Tổ chức Hành chính - Kế hoạch - Tài vụ của Đài), lúc đó cả ba người cùng công tác tại Ty Văn hóa - Thông tinh tỉnh được giao nhiệm vụ tiếp quản chiếc máy phát này. Máy phát khá nặng, được tháo rời từng bộ phận rồi chuyển lên xe tải vận chuyển từ Bắc vào Nam. Máy sau đó được đưa về đặt tại khu vực thuộc Ty Văn hóa - thông tin tỉnh quản lý (nay là cơ quan Bưu điện ngã ba Vườn Mít) để khai thác sử dụng kịp thời. Đi kèm theo máy, là các thiết bị kỹ thuật của một đài truyền thanh cũng được khẩn trương lắp đặt để phát sóng phục vụ không riêng cho nhân dân khu vực thành phố Biên Hòa.

Để đưa làn sóng đến xa hơn với các vùng trong tỉnh, các hoạt động hỗ trợ cũng được tiến hành song song như: xây dựng thêm các đài truyền thanh thực hiện công tác tiếp sóng ở Long Thành, nông trường Sông Ray (huyện Xuân Lộc), bố trí đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện việc đào tạo lớp phóng viên, kỹ thuật đầu tiên cho Đài Biên Hòa. Sau một thời gian hoạt động hiệu quả, toàn bộ máy móc cùng trang thiết bị kỹ thuật được bàn giao lại cho Đài Biên Hòa. Những người từng công tác tại đây lại bước sang làm nhiệm vụ mới ở một cơ quan khác có tên gọi: Đài Phát thanh Đồng Nai.

Chiếc máy tăng âm 300 W, chiếc máy nghĩa tình của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Nam trao tặng cho Biên Hòa, nay được trưng bày trang trọng tại khuôn viên Đài phát thanh - truyền hình Đồng Nai để mọi người cùng nhớ lại và trân trọng những tình cảm quý báu của đơn vị kết nghĩa lúc bấy giờ.

 

2/. Khởi nghiệp Đài Đồng Nai:

Sau ngày 30/4/1975, các phóng viên của Thông tấn xã Giải phóng khu Đông Nam Bộ do đồng chí Trịnh Yến phụ trách vẫn bám sát tình hình Đồng Nai để thông tin kịp thời các hoạt động của tỉnh ra phạm vi cả nước. Và chỉ sau ngày giải phóng, cùng với tờ báo Đồng Nai, Khu ủy miền Đông quyết định xây dựng Đài truyền thanh Biên Hòa và chỉ đạo xây dựng đài phát thanh tỉnh.

Theo đó, 2 máy phát có công suất 20 KW, hiệu Gate cùng với 2 máy nổ 150 KVA từ Đài Mẹ Việt Nam ở Cát Lở, Vũng Tàu do các ông Nguyễn Văn Thọ (Năm Thọ đã mất), Nguyễn Văn Nhiên (Chín Nhiên), Nguyễn Minh Trưng tiếp quản đưa về Biên Hòa.

Ngoài ra, còn có ông Phạm Châu Lập (tên gọi thân mật là chú Ba Lập, nguyên Phó giám đốc kỹ thuật của Đài đã mất). Ông Ba Lập là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc học tập tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội, ra trường công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam.

Trong một lần nói chuyện, ông Ba Lập kể: Sau giải phóng, đang công tác tại Đài Phát thanh Sài Gòn Giải phóng, thì tháng 2 năm 1976, ông được cấp trên điều động tăng cường về Đồng Nai phụ trách việc tổ chức lắp đặt máy móc thiết bị, nhà xưởng và hỗ trợ cho Đài Phát thanh Đồng Nai trong buổi đầu xây dựng còn rất sơ khai. Trong rất nhiều khó khăn chung thời ấy, ngoài Anten và trụ sở làm việc, nhiều trang thiết bị khác, cũng đồng thời được lắp đặt để phục vụ cho phát sóng phát thanh như: Phòng bá âm, phát xạ, máy nổ, xưởng sửa chữa thiết bị, kể cả xây dựng đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật.

Một yếu tố khác cũng không kém phần quan trọng là phải có đội ngũ phóng viên, biên tập. Theo đó, hàng loạt người mới được tuyển dụng như các anh chị: Huỳnh Kim Ngọc, Nguyễn Thanh Hồng, Lê Minh Tâm, Lê Giang Ngàn, Đào Thị Lộc, Nguyễn Thị Cúc, Hồ Văn Mỹ, Phan Thị Kim Tước, Tô Ngọc Cảnh, Nguyễn Thị Thu Trang, Đào Thị Thu Hà, Nguyễn Ngọc Ánh… đã tham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thông tin đầu tiên ở hội trường xã Bùi Tiếng (nay là phường Tân Mai - thành phố Biên Hòa), ăn ở hàng ngày tại trường Vinh Sang (nay là trường trung học phổ thông Trấn Biên).

 

3/. Đây là tiếng nói nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Sau ngày giải phóng, từ nguồn tin có một đài phát thanh của địch đặt tại Vũng Tàu, đồng chí Ba Nhi (trong Ban giám đốc Đài Phát thanh Giải phóng) được giao nhiệm vụ tìm hiểu và biết rõ: Đây là Đài phát tín Cát Lở, bộ phận nghiệp vụ của Hải quân Việt Nam Cộng hòa hiện do hải quân Nhân dân Việt Nam quản lý. Khi chuyên viên kỹ thuật của đài cùng các sĩ quan hải quân vào xem xét tại chỗ thì đây chính là cơ sở phát sóng của một đài phát thanh. Một cơ sở kỹ thuật rất hiện đại với thành phần một máy phát sóng chính 50 KW, một máy dự phòng 10 KW (cả hai đều còn mới). Ở đây, còn có các máy chạy băng, máy phát điện dự phòng và hai hệ thống anten hoàn chỉnh để phát sóng trung và sóng ngắn.

Khu ủy miền Đông Nam Bộ quyết định di chuyển Đài Cát Lở để lập đài phát thanh cho một đài tỉnh sẽ được thành lập ở khu vực phía Đông Bắc của khu. Biên Hòa là nơi được chọn đặt đài phát thanh. Chấp hành chỉ thị này, chỉ một tuần sau, hai máy phát, dàn máy chạy băng và các tủ đựng linh kiện được tháo gỡ và đưa về Biên Hòa cất kỹ trong hai phòng ở khách sạn số 5 Công Lý, nay là khách sạn Hòa Bình.

Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Bích Vân (nguyên Giám đốc đài): “việc vận chuyển máy móc từ Vũng Tàu về Biên Hòa gian nan nhất là 3 máy phát điện 150 KVA! Xe “lô bồi” có thể chở được, nhưng gay go nhất là cầu Cỏ May bị quân ta đánh sập trước ngày 30/4/1975, nhịp cầu tạm chỉ chịu tải 20 tấn và cầu tạm ở Phước Tân (Long Thành) còn yếu hơn, chỉ chịu tải 10 tấn. Trong lúc đó, máy và xe đã nặng tới 27 tấn…Vì vậy, một phương án vận chuyển 3 cỗ máy phát điện về Biên Hòa bằng đường thủy đã được lập.

Tết Bính Thân qua đi, tỉnh Đồng Nai đã được thành lập bao gồm cả Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong cái tất bật, bộn bề công việc của ngày đầu thành lập tỉnh, việc vận chuyển 3 máy phát điện về Biên Hòa vẫn chưa được thực hiện. Một sáng kiến táo bạo được vạch ra: “Rã máy, chở từng phần nhỏ bằng đường bộ! Ba bộ phận lớn của mỗi máy phát điện được rã ra là đi - na - mô, thân máy, bệ máy. Nhưng dù chỉ chở một bộ phận của máy thôi thì cũng không thể vượt qua cầu tạm Phước Tân. Nhóm công tác do đồng chí Hai Trưng dẫn đầu đến xem xét từng chi tiết, từ đó hé ra khả năng mới. Nhịp cầu tạm ở Cỏ May dài 10m, còn ở Phước Tân chỉ dài 4m mà xe “lô bồi” (kể cả đầu máy) dài hơn 10m. Vậy, nếu sức nặng của hàng và xe cùng một lúc không đè lên cầu tạm thì dù hàng và xe có nặng hơn sức chịu đựng của cầu vẫn có thể qua được. Trước sự phân tích có lý, một số lái xe đồng ý tham gia thực hiện. Anh em coi đây là việc “làm lén” không báo cho một cấp trên biết.

Bắt tay vào việc, mới thấy hết nỗi gian nan, vất vả. Cẩu lớn không có, phải dùng hai cẩu 5 tấn đấu lại. Đồng chí Hai Trưng đứng ngay trên nhịp cầu làm hiệu cho từng xe chở máy từ từ chạy qua. Công việc nguy hiểm chết người, song việc qua cầu tạm Cỏ May cũng diễn ra tốt đẹp, mọi người mừng không kể xiết. Đến cầu tạm Phước Tân còn nguy hơn. Các xe nặng 27 tấn phải chạy trên những bao cát và cọc tràm, nhưng rồi mọi chuyện cũng trót lọt.

Gần tháng sau, phó chủ tịch phụ trách công nghiệp của tỉnh triệu tập một cuộc họp gồm đông đủ đại diện các ngành có liên quan, trong đó có vi